Đề thi Ngữ văn vào lớp 10 TP.HCM được nhận xét "khá hay" và phân hóa “rất tốt”

0
0

 - Đề thi môn Ngữ văn vào lớp 10 TP. Hồ Chí Minh được nhận xét là khá hay và có độ phân hóa rất tốt.

Theo các giáo viên thuộc Tổ Ngữ văn – Hệ thống giáo dục HOCMAI, cấu trúc đề thi có sự hoà trộn giữa đề thi năm 2019-2020 và 2020-2021 (theo trục chủ đề và đọc hiểu 2 văn bản). Chủ đề “Thông điệp của thời gian” khá hay, độ phân hoá của đề thi rất tốt. Do vậy, dự kiến kiến phổ điểm trung bình không cao, từ 6.0 - 7.0 điểm

Câu 1- Đọc hiểu: Kết quả lựa chọn ngữ liệu khá tốt. Câu hỏi số 4 của phần này rất hay, đặt ra những lựa chọn giá trị hoc sinh phải cân nhắc. Tuy vậy, câu hỏi thứ 3, vốn ở mức thông hiểu, lại hỏi về thông điệp rút ra từ văn bản, thuộc dạng câu hỏi vận dụng. Do vậy mức độ tư duy cần cân chỉnh lại cho phù hợp với định hướng ra đề thi của Bộ Giáo dục và đào tạo sẽ tốt hơn.

Câu Nghị luận xã hội: Đây là một vấn đề rất hay, đặt ra cho thí sinh sự suy nghĩ về mối quan hệ giữa thời gian và sự trưởng thành. Đó có thể là mối quan hệ theo tỉ lệ thuận, nhưng cũng có những cá nhân dẫu phát triển về mặt thể chất nhưng chưa chắc trưởng thành về suy nghĩ. Nêu vấn đề để học sinh nhận thức sự phân biệt giữa “lớn thêm” và “trưởng thành” là một hướng đi rất hay và cũng là một yêu cầu phân hoá rất tốt, dành điểm cao cho những thí sinh biết tìm tòi, đào sâu suy nghĩ.

Câu Nghị luận văn học: Với 2 sự lựa chọn cho thí sinh

Đề 1: “Sang thu” của Hữu Thỉnh là một bài thơ hay, hàm súc, tinh tế. Hai khổ thơ yêu cầu phân tích sát với định hướng “biến chuyển của thiên nhiên, con người theo bước đi của thời gian”. Bản thân việc phân tích khổ thơ thứ 2 trong đề cũng yêu cầu thí sinh có những cảm nhận sâu sắc, đáp ứng yêu cầu phân hoá. Phần liên hệ so sánh có phạm vi ngữ liệu khá rộng, mở ra lựa chọn từ thơ sang cả truyện. Vấn đề là thí sinh có khả năng lựa chọn tốt ngữ liệu so sánh trong thời gian ngắn để đưa ra những kiến giải phù hợp, xác đáng hay không mà thôi.

Đề 2: Yêu cầu đề không mới, nếu không muốn nói là rất quen thuộc với thí sinh. Tuy vậy, cách đặt vấn đề của đề thi hơi rườm, nhiều khả năng gây nhiễu thông tin cho thí sinh. Do vậy, người ra đề cần cân nhắc hơn về kĩ thuật thực hiện đề thi, nhất là với các lớp ở bậc THCS và với một kì thi nhiều áp lực như kì thi tuyển sinh lớp 10, đặc biệt là ở thành phố Hồ Chí Minh.

Gợi ý đáp án

Câu 

Phần

Nội dung

1

a

Học sinh dựa vào văn bản 1 để tìm ra thông tin về lời tựa cuốn sách của Henry Chabert.

- Ông Henry Chabert đã viết trong lời tựa cuốn sách “Sài Gòn 1698 – 1998: Kiến trúc, quy hoạch” rằng: “Thành phố này nói cho cùng là một ký ức nhắc nhở với ta về bao thế hệ con người khác nhau đã tạo dựng lên nó, bao biến cố thăng trầm lịch sử, nhưng đồng thời cũng nói lên bao niềm ước vọng”.

b

Học sinh cần gọi tên phép liên kết và xác định từ ngữ liên kết. Phép liên kết được sử dụng trong hai câu đầu của văn bản 2 là: 

+ Phép lặp: từ “cuộc đời” và từ “thời gian”.

c

Thông điệp được rút ra qua nội dung của văn bản:

- Thông điệp của văn bản 1: Trân trọng gìn giữ những kiến trúc văn hoá, cảnh quan mang dấu ấn lịch sử của những thành phố cổ kính vì đó cũng chính là một cách thể hiện sự trân trọng đối với quá khứ.

- Thông điệp của văn bản 2: Cần có cách sử dụng thời gian hợp lý cần tận dụng thời gian để có thể học tập làm việc trải nghiệm sao cho trưởng thành nhanh nhất.

d

Học sinh cần lựa chọn một trong hai việc, miễn là đưa ra được những kiến giải hợp lí.

Với những góc nhìn khác nhau, học sinh nêu ra mình quan tâm đến việc nào nhất. Cần nêu rõ việc mình quan tâm, lập luận để chỉ ra lí do mình quan tâm đến việc ấy nhất.

Một vài gợi ý:

1. Quan tâm đến việc “học hỏi từ quá khứ”, nguyên nhân:

- Quá khứ mang đến kinh nghiệm xử lí công việc từ những thành công hoặc thất bại đã đối diện. 

- Quá khứ mang đến kinh nghiệm cảm xúc từ những tình huống ứng xử đã trải qua, từ đó tránh những xúc động, bốc đồng không cần thiết. 

- Quá khứ giúp con người có được lòng biết ơn, sự trân trọng đối với những thành quả mà thế hệ đi trước đã cống hiến, hi sinh để trưởng thành hơn.

2. Quan tâm đến việc “trải nghiệm trong hiện tại”, nguyên nhân:

- Hiện tại là tất cả những gì mà ta đang có, trân trọng những gì đang sở hữu chính là cho mình cảm giác hài lòng, hạnh phúc trong cuộc sống.

- Việc đắm chìm trong quá khứ hay lo nghĩ về tương lai đôi khi gây mất thời gian, không thể so được với việc làm việc, học tập, tích lũy kinh nghiệm, vốn sống trong thực tại.

- Thời gian của mỗi người có giới hạn, nếu ta không tận dụng và nắm bắt những dịp may trong hiện tại để trải nghiệm thì ta sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội để thành công. 

2

 

Phải chăng chỉ cần thời gian trôi qua bạn sẽ trưởng thành?

Ở góc nhìn nhìn tuổi trẻ, em hãy viết bài văn ngắn (500 chữ) để trả lời câu hỏi trên.

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

Học sinh có thể đồng tình hoàn toàn, đồng tình một phần hoặc không đồng tình với câu hỏi trong đề miễn sao các em lập luận hợp lí và thuyết phục. Sau đây là gợi ý cho một hướng giải quyết của đề bài: 

* Giải thích: 

  • Thời gian: Thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra trước sau của các sự kiện trong vũ trụ, thời gian tuyến tính, chỉ đi theo một chiều duy nhất từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Sự tồn tại của khái niệm thời gian chỉ thực sự có ý nghĩa khi mà các sự vật trong vũ trụ có biến đổi và vận động, thời gian trôi đi gắn liền với sự thay đổi trạng thái các sự vật, có các đơn vị đo thời gian.
  • Thời gian trong vũ trụ là một khái niệm vô cùng, không có thể kết thúc, nhưng thời gian của cuộc đời mỗi con người lại là hữu hạn (tuổi thọ trung bình con người 60 năm – 80 năm).
  •  Trưởng thành: Thật khó để có một định nghĩa trọn vẹn về trưởng thành, sự trưởng thành của con người không chỉ đến từ tuổi tác, ngoại hình, giới tính, hay địa vị xã hội mà nó còn được thể hiện thông qua lời nói, cử chỉ, cách suy nghĩ và thái độ nhận thức với cuộc sống.

→ Như thế, câu hỏi có ý nghĩa theo sự chảy trôi của thời gian, con người sẽ lớn dần về mặt sinh học và đồng thời cũng thu nhận được những bài học, nâng cao nhận thức.

* Bàn luận:

- Đồng tình: Thời gian trôi đi, con người sẽ trưởng thành cả về mặt sinh học và nhận thức.

+ Thời gian qua đi, mỗi năm con người sẽ già đi về mặt tuổi tác, đây là sự lớn lên về mặt sinh học.

+ Thêm vào đó, thời gian cũng mang đến cho con người nhận thức đầy đủ về cuộc đời:  Cuộc sống của con người là kết quả của chuỗi những sự lựa chọn, thông qua quá trình lựa chọn đó, con người nhận thức về cuộc sống muôn màu muôn vẻ, hoặc quá trình nhận thức cuộc sống thông qua những hiện tượng, sự vật, những con người quanh ta. Từ đó, chúng ta có những bài học (bài học về cách yêu thương, cách lắng nghe và ứng xử,...) cho mình trong cuộc sống trong tương lai, đó như là một biểu hiện của sự trưởng thành. 

- Không đồng tình: Thời gian trôi đi con người có thể lớn lên về mặt sinh học nhưng vẫn không đủ đầy, chín chắn về mặt nhận thức:

+ Một điều hiển nhiên, bình thường, thời gian qua đi, nếu cơ thể con người vẫn được cung cấp năng lượng cho sự phát triển, con người vẫn lớn lên, về mặt sinh học. 

+ Tuy nhiên, trong sự trôi chảy của thời gian đó, con người không hề có ý thức cần phải quan sát và học tập, rút ra những kinh nghiệm sống cho mình từ những biến đổi xung quanh cuộc đời mình thì sự trôi đi của thời gian là vô nghĩa.

Dẫn chứng

+ Brian Tracy đã nói: “Tài sản lớn nhất của bạn là khả năng kiếm tiền. Tài nguyên lớn nhất của bạn là thời gian”.

+ Những người trẻ trong “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long, điển hình là nhân vật anh thanh niên, luôn hết lòng, trách nhiệm với công việc hiện tại của mình, luôn tranh thủ từng giây phút trong hiện tại, không xao nhãng với các việc xung quanh để đạt hiệu quả tốt nhất.

+ Một số bạn trẻ đắm chìm trong mạng xã hội ảo, những trò chơi điện tử vô bổ, dẫn đến hành động sai lệch, ảnh hưởng đến tâm lí, thần kinh.

* Mở rộng vấn đề: 

- Bên ngoài cuộc sống, ai ai cũng đang cố gắng nắm bắt thời gian của bản thân, tận dụng thời gian một cách thận hiệu quả để trau dồi thêm kiến thức, tập trung sức lực tuổi trẻ để sáng tạo, lao động tích cực, để nhanh chóng chạm tay đến ước mơ của bản thân, làm ra những giá trị, những thành quả tốt đẹp, khiến cuộc sống trở nên tươi đẹp, xã hội ngày một phát triển.

- Người biết tranh thủ từng giờ từng phút để lao động và học tập là những người thông minh, biết cách sắp xếp cuộc sống có trật tự, có mục tiêu, mục đích và lý tưởng rõ ràng, đó là biểu hiện rõ ràng nhất về một con người sẽ chóng thành công trong tương lai gần.

- Những con người lười biếng, ỷ lại vào thanh xuân, vào tuổi trẻ vì nghĩ rằng thời gian còn dài, để mà lao vào những cuộc vui không bến bờ, những trò vô bổ, không giá trị, thì khó có thể thành công được.

* Bài học nhận thức và hành động

- Hành trình của con người là kết quả của chuỗi những sự lựa chọn, cần nghiêm túc ý thức về việc thời gian sẽ qua đi, nếu không hành động tích cực thì tương lai sẽ bỏ lỡ những cơ hội phát triển tốt của bản thân.

- Hãy sắp xếp thời gian học tập vui chơi một cách hợp lý, nuôi dưỡng tâm hồn, tham gia các hoạt động thể thao; Cân đối thời gian học tập và hưởng thụ.

- Tuổi trẻ của con người hữu hạn, hãy làm điều gì đó ngay bây giờ, đừng để khi mắt đã mờ chân đã yếu, ta lại phải tiếc nuối và bắt đầu với các từ “nếu”, “giá như”...

c. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

3

Đề 1

Cảm nhận về hai khổ thơ cuối bài Sang thu. Từ đó, liên hệ với một tác phẩm khác để thấy được những biến chuyển của thiên nhiên hoặc con người theo bước đi của thời gian.

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Triển khai vấn đề:

1. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

-  Tác giả: Hữu Thỉnh (1942). Quê quán: Vĩnh Phúc. Là nhà thơ trưởng thành trong quân đội, mang đậm hồn quê Việt Nam, mộc mạc nhưng giàu rung cảm.

- Tác phẩm:

+ Hoàn cảnh sáng tác: 1977, in trong tập Từ chiến hào đến thành phố.

+ Khái quát: cảm nhận tinh tế trước cảnh vật giao mùa từ cuối hạ sang thu nhẹ nhàng, êm dịu; suy ngẫm của tác giả về cuộc đời.

2. Bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa

- Không gian rộng lớn của cảnh vật:

+ Xuất hiện những tín hiệu trong văn bản: dòng sông, cánh chim, đám mây mùa hạ… gợi hình dung đến thiên nhiên lúc giao mùa. 

+ Nghệ thuật tu từ nhân hóa và đối lập thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả, đồng thời, mở ra không gian thiên nhiên rộng lớn. 

+ Việc miêu tả sự thay đổi của thiên nhiên, tạo liên tưởng và kết nối về nội dung với đoạn thơ sau: sự thay đổi trong cuộc đời con người. 

3. Những chiêm nghiệm của nhà thơ

- Từ việc miêu tả hiện tượng thời tiết (nắng, mưa, sấm), tác giả sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ để nói về bước chuyển trong cuộc đời con người. 

- Từ việc miêu tả thiên nhiên từ hạ sang thu, tác giả gợi tới sự liên tưởng: từ tuổi trẻ nhiệt huyết, sôi nổi đến giai đoạn lắng mình, vững vàng trước những sóng gió…

- Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” giống như một người trưởng thành, không dễ dàng gục ngã trước những khó khăn, tác động của ngoại cảnh.

→ Con người khi đã bước sang tuổi trung niên, có sự dày dặn kinh nghiệm cuộc sống, càng trở nên điềm tĩnh và vững vàng hơn trước thời cuộc và thay đổi của xã hội. 

* Tiểu kết về nội dung và nghệ thuật. 

4. Liên hệ: Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận) 

-  Sự biến chuyển của thiên nhiên: Thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, đã nhanh chóng đi vào thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm,  kích thước vũ trụ đầy khoáng đạt, nên thơ, đẹp đẽ làm cho thành quả lao động thêm huy hoàng.

-  Điểm tương đồng với Sang thu: đều nêu bật được sự biến chuyển của thiên nhiên theo thời gian, khắc họa thiên nhiên bằng những hình ảnh thơ đẹp, ấn tượng, độc đáo và ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, gợi tả, gợi cảm.

-  Điểm khác biệt với Sang thu: bút pháp lãng mạn được phát huy tối đa giá trị (với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so sánh, nhân hóa, phóng đại), tác giả đã khắc họa bước chuyển của thiên nhiên đặt trong bức tranh lao động khỏe khoắn, sôi nổi; vẻ đẹp của thiên nhiên có sự hài hòa với con người, thể hiện nguồn cảm hứng ngợi ca vô tận về biển cả lớn lao, tươi đẹp và tinh thần hăng say vì một đất nước mạnh giàu của những người lao động mới.

5. Tổng kết 

- Khái quát lại mối liên hệ giữa hai bài thơ. 

- Suy ngẫm về sự thay đổi của con người/thiên nhiên theo thời gian.

c. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Đề 2

Từ tin nhắn của thời gian và từ những trải nghiệm trong quá trình đọc, hãy viết bài văn nghị luận về một quyển sách hoặc một tác phẩm văn học đã giúp em hiểu thêm về chính mình.

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Có đầy đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài: Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

* Giải thích

- Mối quan hệ giữa thời gian và con người: 

Với con người thời gian là hữu hạn, con người chỉ sống một lần và thời gian thì luôn chảy trôi, không chờ đợi ai.

+ Suy nghĩ và quan điểm của con người biến chuyển theo từng chặng thời gian của cuộc đời.

+ Tuổi trẻ là thời điểm lý tưởng nhất để khám phá, tìm hiểu bản thân, dồi dào ý tưởng, sức sống.

→ Cần liên tục tự nhìn nhận bản thân để trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình.

- Hiểu về chính mình:

+ Biết về điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. 

+ Nhìn nhận được những mối quan hệ xung quanh mình, biết quan tâm và chia sẻ với những người xung quanh.

+ Xác định được ý nguyện, mong muốn cần được thực hiện trong đời.

→ Sách/tác phẩm văn học là một trong những phương tiện để trở nên hiểu biết hơn về thế giới và từ đó, nhìn nhận, tìm hiểu chính mình.

* Bình luận, chứng minh

- Tin nhắn của thời gian: 

+ Gửi tới tuổi trẻ - đã qua giai đoạn niên thiếu, có thể chịu trách nhiệm với chính mình.
+ Lời nhắn nhủ: Tìm hiểu và phát triển bản thân thông qua học hỏi từ sách, chuẩn bị và xây dựng hành trang ngay từ thời điểm sung sức nhất của cuộc đời. 

+ Bức tranh cuộc đời được biểu hiện bằng hình ảnh đồng hồ chia làm 4 phần. Tuổi trẻ là khoảng thời gian để định hình cá tính, lý tưởng,... của riêng mình và tiếp tục phát triển, chiêm nghiệm trong hai giai đoạn tiếp theo - trung niên và tuổi già.

- Giá trị của việc hiểu về chính mình:

+ Định hướng rõ ràng về con đường phát triển của bản thân.

+ Phát triển nhanh và đạt được những thành tựu của riêng mình.

+ Lan tỏa lối sống tốt đẹp, những giá trị sống văn minh trong xã hội.

- Học sinh chọn phân tích một quyển sách/một tác phẩm văn học và các kiến thức văn học đã có để chứng minh: Sách/tác phẩm văn học đã giúp em hiểu thêm về chính mình. Sau đây là một số gợi ý triển khai nghị luận:

+ Giới thiệu về cuốn sách, tác giả, nội dung chính.

+ Việc lựa chọn sách/tác phẩm văn học có sự tác động của độ tuổi.

+ Bài học giá trị nhất/Những bài học, thông điệp được rút ra được từ tác phẩm đã giúp anh/chị hiểu rõ hơn bản thân mình. 

+ Những biến chuyển trong nhận thức và hành động khi anh/chị nhận được bài học/thông điệp từ tác phẩm.

+ Lí giải những tác động của một tác phẩm đối với sự hình thành hiểu biết về chính mình:

  • Sách vở là một trong những phương tiện để mỗi cá nhân tiếp cận, mở rộng sự hiểu biết của bản thân → Xây dựng dữ liệu, nền tảng tri thức để hiểu biết về thế giới xung quanh, từ đó, khám phá chính mình.
  • Sách/tác phẩm văn học cho ta biết về sự đa diện của cuộc sống, những số phận và cuộc đời khác nhau cùng chung sống với chúng ta → Nền tảng cho sự định hình về tâm lý, lối sống.
  • Sách chứa đựng những trải nghiệm của người viết → Cộng hưởng với lối suy nghĩ, trải nghiệm của người đọc để đưa ra những hướng suy nghĩ phù hợp với thời đại, với cách tư duy của mỗi người.

Gợi ý một số quyển sách/tác phẩm văn học có thể giúp người đọc hiểu về chính mình:

+  Tác phẩm văn học trong chương trình: Lặng lẽ Sa Pa, Những ngôi sao xa xôi, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Mùa xuân nho nhỏ,....

+ Một số quyển sách ngoài chương trình: Sống chậm lại giữa thế gian vội vã (Đại đức Haemin), Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu (Rosie Nguyễn), Đi tìm lẽ sống (Viktor E.Frankl), Hiểu về trái tim (Minh Niệm),....

* Đánh giá vấn đề

- Ngoài sách/tác phẩm văn học, cần trải nghiệm và tích luỹ từ nhiều phương tiện, hình thức khác để tìm hiểu chính mình.

- Việc hiểu về bản thân cần được diễn ra trong một quá trình, không nên vội vàng, hấp tấp. 

- Dù còn mơ hồ hay chưa định hình rõ về cá nhân, cần phải giữ vững những giá trị sống cơ bản về đạo đức và tuân thủ pháp luật, sống hướng thiện và hoà hảo với những người khác trong cộng đồng.

- Giữ cho mình sự “trẻ lòng" (từ dùng của thi sĩ Xuân Diệu) để luôn làm mới bản thân, cởi mở để tiến bước và phát triển. 

c. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 

d. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

Hoàng Hải

Ý kiến bạn đọc