Chuyên gia hướng dẫn cách đọc các chỉ số xét nghiệm máu bình thường

0
0

 - Sau khi có kết quả xét nghiệm máu, khi chưa được bác sĩ tư vấn hoặc không được tư vấn tận tình, nhiều người có thể sẽ trở nên hoang mang lo lắng vì không hiểu ý nghĩa của các chỉ số máu.

xét nghiệm máu
xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu hỗ trợ các bác sĩ rất nhiều trong việc chẩn đoán bệnh. Bên cạnh đó, các chỉ số xét nghiệm máu còn biểu hiện hiệu quả của phác đồ điều trị giúp các bác sĩ điều chỉnh và tìm ra phương pháp điều trị bệnh tốt nhất cho người bệnh.

Ngày nay, đa số người dân đã có thói quen đi xét nghiệm máu định kỳ để phát hiện sớm những nguy cơ mắc bệnh và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, sau khi có kết quả xét nghiệm máu, khi chưa được bác sĩ tư vấn hoặc không được tư vấn tận tình, nhiều người có thể sẽ trở nên hoang mang lo lắng vì không hiểu ý nghĩa của các chỉ số máu.

Vậy các chỉ số xét nghiệm máu bình thường là như thế nào? Dưới đây là hướng dẫn của BSCKI. Vũ Thanh Tuấn (Medlatec)

Xét nghiệm máu được thực hiện rất đơn giản và có thể được chia thành nhiều loại với những mục đích khác nhau. Cụ thể là:

- Xét nghiệm công thức máu toàn phần: Loại xét nghiệm máu này sẽ giúp các bác sĩ có thể biết được chính xác về chỉ số hồng cầu, bạch cầu hay tiểu cầu trong cơ thể bạn đang là bao nhiêu. Kết hợp với những triệu chứng lâm sàng, các bác sĩ sẽ đưa ra chẩn đoán sớm về một số bệnh lý về máu như bệnh thiếu máu, ung thư máu, suy tủy,...

- Xét nghiệm đường huyết: Đây là một loại xét nghiệm máu rất quan trọng đối với bệnh nhân tiểu đường. Thông qua xét nghiệm này, các bác sĩ sẽ có thể xác định được nồng độ glucose trong máu, từ đó chẩn đoán bệnh tiểu đường chính xác. Hơn nữa, bệnh nhân tiểu đường cũng cần thực hiện xét nghiệm này định kỳ để theo dõi tình trạng bệnh và đánh giá về hiệu quả điều trị bệnh.

- Xét nghiệm mỡ máu giúp xác định được hàm lượng cholesterol và triglyceride trong máu.

- Xét nghiệm men gan để đánh giá chỉ số men gan. Trong đó, nồng độ ALT được đánh giá là đặc hiệu cho các tổn thương ở gan. Ngoài ra chỉ số men gan còn dựa vào chỉ số AST.

Cách đọc các chỉ số xét nghiệm máu bình thường

Các chỉ số xét nghiệm máu đạt mức bình thường cũng là một dấu hiệu tốt về sức khỏe. Đồng thời, dựa vào sự thay đổi bất thường của kết quả xét nghiệm máu, các chuyên gia cũng sẽ chẩn đoán được nguy cơ sức khỏe, tình trạng bệnh lý của người bệnh. Cụ thể như sau:

- Chỉ số WBC bình thường sẽ từ 4.300 - 10.800 tế bào/mm3 cho biết lượng bạch cầu tồn tại trong một thể tích máu T.

+ Chỉ số này tăng là dấu hiệu cảnh báo tình trạng nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, bệnh bạch cầu hoặc có thể tăng với trường hợp dùng thuốc điều trị gây tăng bạch cầu.

+ Chỉ số bạch cầu giảm do thiếu máu bất sản, thiếu vitamin B12, nhiễm HIV, viêm gan B, hoặc do thuốc điều trị.

- Chỉ số LYM cần đạt mức 20 đến 25%: Đây là chỉ số cho biết về số lượng tế bào có khả năng miễn dịch, bao gồm tế bào Lympho T và tế bào Lympho B. Nguyên nhân khiến chỉ số LYM giảm là do bệnh ung thư, sốt rét,... Nguyên nhân khiến chỉ số LYM tăng là do nhiễm khuẩn, bệnh bạch cầu.

 - Chỉ số NEUT cần đạt từ 60 đến 66%. NEUT còn được gọi là bạch cầu trung tính. Thường tăng trong các trường hợp nhiễm khuẩn cấp và giảm trong trường hợp bị thiếu máu bất sản, dùng thuốc ức chế miễn dịch,…

- Chỉ số MON bình thường sẽ ở mức 4 đến 8%. Chỉ số này cao do một số nguyên nhân như bệnh ung thư, bệnh lao,... và giảm khi thiếu máu hoặc dùng thuốc corticosteroid.

- Chỉ số hồng cầu trong một thể tích máu RBC với giá trị trung bình từ 4.2 đến 5.9 triệu tế bào/cm3.,…

- Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu HBG với giá trị trung bình 13 đến 18 g/dl(nam giới) và 12 đến 16 g/dl (đối với nữ).

- Chỉ số tỷ lệ thể tích hồng cầu HCT ở nữ là 37 đến 48% và ở nam là từ 45 đến 52%.

- Chỉ số huyết sắc tố hemoglobin MCHC trung bình từ 32 đến 36%.

- Chỉ số RDW từ 11 đến 15%, phản ánh về độ phân bố kích thước hồng cầu.

- Số lượng tiểu cầu PLT cần đạt từ 150.000 đến 400.000/cm3. Nếu quá cao có thể gây hình thành máu đông và dẫn tới nhồi máu cơ tim.

- Chỉ số thể tích trung bình của tiểu cầu trong một thể tích máu hay còn gọi là chỉ số MPV cần đạt giá trị trung bình ở mức 6,5 đến 11fL.

Hoàng Hải

Ý kiến bạn đọc