Tăng thuế VAT: Nên hay không nên?

14:54, 29/06/2018
|
(VnMedia) -  Theo ông Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), việc tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) không làm tăng sản lượng thực của nền kinh tế mà còn làm giảm phúc lợi của tất cả các hộ gia đình. Vì vậy, Bộ Tài chính có thể nghĩ đến các giải pháp như cải thiện hiệu quả hành thu thuế nhằm giảm gian lận thuế để làm tăng nguồn thu thay vì tăng VAT.
 
Tăng thuế không làm tăng sản lượng thực của nền kinh tế
 
Trả lời câu hỏi của PV về việc có hay không nên tăng thuế VAT trong bối cảnh hiện nay, ông Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), việc thuế tăng VAT sẽ làm ảnh hưởng đến phúc lợi, cũng như chi tiêu của người dân theo chiều hướng tiêu cực và không đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.
 
“Tăng thuế không làm tăng sản lượng thực của nền kinh tế và làm giảm phúc lợi của tất cả các hộ gia đình. Thậm chí, nếu tiền thuế tăng thêm lại được Chính phủ đưa vào chi thường xuyên, mà không chi đầu tư phát triển sẽ làm cho sản lượng thực của nền kinh tế giảm”, ông Thành nhấn mạnh.
 
Trước những phân tích trên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách cho rằng, chưa nên tăng thuế VAT. Thay vào đó, Bộ Tài chính có thể nghĩ đến các giải pháp như cải thiện hiệu quả hành thu thuế nhằm giảm gian lận thuế để làm tăng nguồn thu. Trong trường hợp Chính phủ vẫn cần phải tăng thuế để bù đắp cho thâm hụt và giảm nợ công, Chính phủ nên nghĩ đến việc cải cách lại các loại thuế tài sản. Vì hiện nay, tỷ trọng của loại thuế này trong tổng số thu thuế còn quá khiêm tốn.
 
 
Thêm vào đó, ông Thành cũng phân tích, hiện tỷ trọng thuế tiêu dùng trong tổng số thu thuế đã ở mức trên 60%, tăng thêm suất bất cứ một loại thuế tiêu dùng nào cũng sẽ làm gánh nặng thuế của nhóm người có thu nhập thấp đã nặng thì càng thêm nặng.
 
Một điểm đáng lưu tâm nữa cũng được Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách đưa ra là, các đề xuất tăng thuế gần đây luôn bị công luận phản đối rất mạnh. Do đó, trước khi tăng thuế Chính phủ phải thuyết phục được người dân về tính hợp lý của các khoản chi tiêu chính phủ. Minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thu chi ngân sách cần phải được nâng cao hơn và theo kịp với chuẩn mực quốc tế trước khi đưa ra các đề xuất tăng thuế.
 
VAT đóng góp nhiều nhất vào tổng số thu thuế của Việt Nam
 
Theo ông Nguyễn Đức Thành, hiện nay, VAT đang làm loại thuế đóng góp nhiều nhất vào tổng số thu thuế của Việt Nam. Bằng chứng, năm 2006, thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm trên 42% tổng số thu thuế, đến năm 2016, con số này chỉ còn 23%.
 
Ở chiều ngược lại, năm 2006, tỷ trọng của VAT trong tổng số thu thuế là 23%, đến năm 2016, con số này đã tăng lên gần 1,5 lần và ở mức 33%. Thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam có tỷ trọng trong tổng số thu thuế khá kiêm tốn khoảng 6%.
 
Với các loại thuế gián thu khác (thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu), tỷ trọng của tổng số thu các loại thuế này trên tổng số thu thuế ở Việt Nam năm 2016 là 22%. Các loại thuế tài sản của Việt Nam có tỷ trọng rất kiêm tốn (gần 3% năm 2016).
 
Theo Nghiên cứu về tác động của tăng thuế giá trị gia tăng lên tổng thể nền kinh tế và phúc lợi hộ gia đình của VEPR, sự dịch chuyển về cơ cấu các loại thuế của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2016 là do hai nguyên nhân chính.
 
Thứ nhất, Việt Nam đã gia nhập nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương làm số thu của thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu sụt giảm rất mạnh.
 
Thứ hai, thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm khá mạnh trong giai đoạn này (từ mức 28% xuống mức 20%) để tạo môi trường đầu tư kinh doanh cạnh tranh với các nước trong khu vực.
 
Những sự thay đổi này không chỉ làm thay đổi cơ cấu các loại thuế mà còn làm tỷ lệ thu ngân sách trên GDP của Việt Nam đã giảm đáng kể từ năm 2011. Tuy nhiên, chi ngân sách trên GDP vẫn có xu hướng gia tăng nhẹ từ năm 2012. Do vậy, ngân sách của Việt Nam đã phải đối mặt với thâm hụt nặng nề và tình trạng nợ công tăng mạnh.
 
Theo IMF (2018), tỷ lệ thâm hụt ngân sách của Việt Nam luôn duy trì ở trên mức 6% GDP từ năm 2012 đến năm 2016. Con số này cao hơn mức trung bình của các nước ASEAN 5, các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp trong giai đoạn 2012 - 2016. Tương ứng với nó, tỷ trọng nợ công trên GDP của Việt Nam đã cao hơn mức trung bình của các nhóm nước kể trên từ năm 2013.
 
Về góc độ bình đẳng giới, các cải cách thuế gián thu trong đó có VAT không đưa lại các thiên kiến giới trực tiếp nhưng gián tiếp phân biệt đối xử với phụ nữ do phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn, lao động trong khu vực có trình độ chuyên môn và tay nghề thấp và/hoặc trong khu vực phi chính thức, tỷ lệ thất nghiệp cao trong khi thu nhập từ tiền lương, tiền công thấp hơn so với nam giới. 
 
Minh Ngọc

Ý kiến bạn đọc