"Động lực" tăng trưởng và thách thức của Việt Nam

10:30' 04/05/2015 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Trong bối cảnh môi trường đầu tư, kinh doanh có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, thì khu vực DNNVV vốn được coi là 1 trong những “động lực” tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế, nhưng lại rơi vào trạng thái hoạt động đáng quan ngại.

>> Loại doanh nghiệp nào đang giải thể nhiều nhất?
>>
FDI tác động thế nào đến kinh tế Việt Nam?
>> Năm 2015: Những hạn chế của nền kinh tế

Nhận định trên được TS Phạm Ngọc Long - Ủy viên ban chấp hành Hiệp Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - Viện trưởng Viện Khoa học Quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2015.

Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành quả tích cực

Kinh tế Việt Nam năm 2014 qua đi với những dấu hiệu của sự phục hồi ấn tượng và bất ngờ. Theo đó, GDP tăng 5,98% so năm 2013, vượt mức kế hoạch (5,8%) đề ra. Xuất khẩu đạt 150 tỷ USD, tăng 13,6% và xuất siêu đạt 2 tỷ USD. Đặc biệt, thị trường tài chính - tiền tệ đã dần đi vào ổn định, nợ xấu giảm, mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều hạ, tạo điều kiện khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, thêm nhiều cơ hội cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng và hỗ trợ ngân hàng giảm tồn đọng vốn nhàn rỗi, giảm dư thừa thanh khoản.

Đáng chú ý, CPI bình quân năm 2014 tăng 4,09% so với bình quân năm 2013, mức tăng khá thấp trong vòng 10 năm qua. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 15,6 tỷ USD, tăng 24,5% so năm 2013.

  Ảnh minh họa

   Khu vực DNNVV vốn được coi là 1 trong những “động lực” tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế.  Ảnh minh họa

Mặc dù tình hình kinh tế năm 2014 đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng theo TS Phạm Ngọc Long - Ủy viên ban chấp hành Hiệp Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (DNNVV), thì nền kinh tế Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức về năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung, cũng như sự chậm trễ đối phó với hội nhập của phần lớn các doanh nghiệp trong nước nói riêng.

TS Phạm Ngọc Long phân tích, mặt bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở mức thấp chủ yếu nhờ tác động giảm giá nguyên liệu, năng lượng đầu vào (như giá dầu thô, thép, bông sợi ...) và tổng cầu còn yếu (sức mua nội địa tăng chậm, xuất khẩu nông sản giảm sút), chứ không phải do chủ động kiểm soát lạm phát. Trong khi đó, xuất khẩu tăng cao chủ yếu nhờ ở khu vực doanh nghiệp FDI và kinh tế thế giới, vẫn đang trong đà phục hồi chậm chạp, chứa đựng nhiều rủi ro.

Cũng theo TS Phạm Ngọc Long, sức ép tiến trình hội nhập phải “mở toang” cửa thị trường và nới lỏng nhiều điều kiện thuế, hải quan, hàng rào kỹ thuật không mấy “dễ chịu” cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Trợ giúp DNVVN là vực dậy 1 “trụ cột” kinh tế

Cũng liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, hiện nay, cải thiện môi trường cạnh tranh để tăng cường sức “hút” của các nhà đầu tư đang được xem là vấn đề quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo TS Phạm Ngọc Long, trong bối cảnh môi trường đầu tư, kinh doanh có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, thì khu vực DNNVV vốn được coi là 1 trong những “động lực” tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế, nhưng lại rơi vào trạng thái hoạt động đáng quan ngại.

Dẫn chứng về vấn đề này, TS Phạm Ngọc Long cho rằng, nhiều vướng mắc giữa chính sách và khâu thực hiện lâu nay đã khiến DNNVV vốn yếu kém nội tại, một mặt không dễ “tiếp cận” và “thụ hưởng” những thay đổi mới, tiến bộ về môi trường đầu tư kinh doanh, mặt khác, càng gặp thêm nhiều khó khăn bởi áp lực nâng cao năng lực cạnh tranh tự thân trong môi trường đầu tư, kinh doanh thay đổi nhanh chóng và phức tạp.

Theo Tổng cục thống kê, quý I/2015 có trên 16.000 doanh nghiệp phải đăng ký giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trong đó 2.055 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh, tăng 8,7%; 14.040 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động tăng 25% so cùng kỳ năm trước. Phần lớn trong số họ là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ có số vốn hoạt động dưới 10 tỷ đồng (chiếm 93,57%).

Những thống kê trên cho thấy, hiện tượng sàng lọc, đào thải tự nhiên chỉ cho phép số DNNVV có qui mô vốn lớn trên 10 tỷ (chiếm 6,43%) mới có sức “đề kháng” tốt, có chiến lược kinh doanh bài bản, có độ bền vững, chống chọi với biến động lớn của môi trường đầu tư kinh doanh hiện nay so với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (vốn dĩ chiếm gần 98% tổng số DNNVV của cả nước).

“Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nếu xét từ góc độ thu hút, khuyến khích phát triển DNNVV không đơn thuần tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, cạnh tranh thực sự bình đẳng, lành mạnh, minh bạch hóa thông tin mà còn là sự chủ động hỗ trợ, trợ giúp “khôn khéo” cho khu vực này. Có làm vậy mới giúp DNNVV khắc phục nhanh chóng các yếu kém nội tại (hiện tượng nhỏ hóa; thiên về dịch vụ, thương mại, chưa phát huy thế mạnh lĩnh vực nông nghiệp; công nghệ lạc hậu; qui mô phân tán, manh mún; năng suất, hiệu quả, giá trị gia tăng thấp”, TS Phạm Ngọc Long chia sẻ.

Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng cũng cho rằng, đối với một doanh nghiệp nước ngoài, môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt nam là thuận lợi, nếu nó có thể dễ dàng tiếp cận các nguồn lực tại chỗ, mà việc sử dụng các nguồn lực đó cho phép giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới (tức là tăng thị phần và lợi nhuận).

Theo PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng, đối với một nền kinh tế đang hội nhập và tăng trưởng như Việt nam, việc tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi sẽ làm tăng khả năng thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, về vốn, công nghệ, và trình độ tổ chức tiên tiến. Cho phép nâng hiệu quả và quy mô sản xuất trong nước. Nhờ vậy, làm tăng khả năng xuất khẩu ra thị trường bên ngoài.


Yến Nhi