Lợi ích từ TPP dành cho ai?

15:16' 13/10/2015 (GMT+7)
|

Việc Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) không chỉ liên quan đến các vấn đề về thương mại và sức cạnh tranh, mà còn là vấn đề về tăng trưởng kinh tế, dòng vốn đầu tư và sự phân bố không đều của lợi ích TPP đối với các đối tượng trong nền kinh tế.

TPP và tác động đối với dòng vốn đầu tư

Sau khi hoàn tất đàm phán TPP vào ngày 5/10, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ Hiệp định. Ngân hàng Thế giới (WB) dự đoán, TPP sẽ tác động tích cực với tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, tính tới năm 2025, xuất khẩu sẽ tăng thêm 28%, tăng trưởng GDP có thể thêm 10% so với tình huống không có TPP (tạm tính thì nghĩa là bình quân mỗi năm tăng thêm hơn 2% xuất khẩu và gần 1% GDP).

Tất nhiên, những con số trên xuất phát từ những mô hình kinh tế với nhiều giả định mà khả năng thành hiện thực là rất thấp. Nhưng nó cho thấy, giới quan sát rất lạc quan với tác động của TPP ở Việt Nam.

Tờ Financial Times nhận xét rằng, lợi ích kép mà Việt Nam nhận được bao gồm: thâm nhập thị trường Mỹ dễ dàng hơn và buộc phải thực hiện cải cách để thoát khỏi tình trạng một nền kinh tế thiếu hiệu quả và tham nhũng còn nặng nề.

Với những lợi ích đó, Việt Nam nhiều khả năng sẽ thu hút thêm dòng vốn nước ngoài, dưới dạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các công ty sản xuất. Một số doanh nghiệp (DN) nước ngoài ở Hồng Kông khi trả lời phỏng vấn trên Financial Times và những trang tin điện tử khác đã khẳng định, họ tin rằng, đầu tư vào Việt Nam sẽ gia tăng. Vốn FDI và hoạt động thương mại gia tăng sẽ tăng độ quen thuộc của nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam, do đó sớm muộn sẽ kéo theo dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam.

Tuy nhiên, triển vọng gia tăng dòng vốn quốc tế vào Việt Nam không chỉ đem lại những thuận lợi, mà có còn có thể khuếch đại những rủi ro nội tại của nền kinh tế.

DN nhỏ và vừa Việt Nam đứng trước nguy cơ bị đào thải

Áp lực từ việc xóa bỏ thuế quan và không phân biệt đối xử với các DN trong nhóm nước tham gia TPP sẽ không chỉ nằm ở việc hàng hóa nội địa gặp nhiều cạnh tranh với hàng ngoại, mà còn ở chỗ DN nội có thể đầu tư sang một nước khác trong nhóm TPP như Singapore, nơi có môi trường kinh doanh thoải mái và minh bạch hơn, rồi mở chi nhánh sản xuất ở Việt Nam.

Khi đó, dòng vốn và nhân lực có chất lượng cao ở Việt Nam có xu hướng chuyển bớt ra các nước láng giềng cũng hưởng lợi từ TPP, nhưng có điều kiện kinh doanh tốt hơn như Singapore, trong khi dòng vốn đổ vào chủ yếu để tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có và nhân công còn tương đối rẻ.

Cộng với những ưu đãi cho DN FDI đang có và sự mở trói với các “room” đầu tư trên thị trường cổ phiếu, xu thế vốn ngoại ép vốn nội trên sân nhà, trong khi vốn nội có chất lượng chạy ra nước ngoài là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Những DN nhỏ và vừa của Việt Nam “sẽ càng trở nên nhỏ và siêu nhỏ” như dự đoán của chuyên gia Phạm Chi Lan.

Khi đó, Việt Nam là một nền kinh tế được cấu thành chủ yếu bởi 3 thành phần: DN rất lớn có quan hệ với Nhà nước; DN tư nhân rất nhỏ, không có quan hệ, thiếu vốn và công nghệ và DN có phần lớn vốn đầu tư nước ngoài.

Trong đó, thành phần thứ hai - các DN nhỏ và vừa (có nguy cơ trở thành nhỏ và rất nhỏ), là nội lực của bộ phận lớn người dân trong xã hội và có nguy cơ teo tóp dần. Còn thành phần thứ nhất, khu vực kinh tế dựa vào quan hệ và vốn mạnh sẽ càng phình to cùng với thành phần thứ ba.

Nếu điều này trở thành sự thật, dù dự đoán của WB về lợi ích từ TPP với tăng trưởng kinh tế trở thành sự thật, thậm chí là tốt hơn, thì lợi ích của nó cũng có thể hoàn toàn được hưởng thụ bởi một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế. Đây là điều mà không ít kinh tế gia nước ngoài đã chỉ ra như một mặt trái của toàn cầu hóa: nới rộng khoảng cách giàu nghèo.

Một thước đo về phân bổ lợi ích của tăng trưởng kinh tế là chênh lệch giữa GDP (tổng thu nhập quốc nội) so với GNI (tổng thu nhập quốc dân, là một thước đo khác của khái niệm GNP). Hiểu nôm na thì GDP càng cao so với GNI có nghĩa là lợi ích kinh tế tạo ra ở Việt Nam mang lại nhiều lợi ích hơn cho DN nước ngoài hơn là trong nước.

Dữ liệu chênh lệch GDP so với GNI của Việt Nam từ năm 2006 tới 2014 cho thấy, khoảng cách này ngày càng mở rộng, từ mức 1,4 tỷ USD năm 2006 lên hơn 9,3 tỷ USD năm 2014 (theo số liệu GDP và GNI tính theo USD hiện hành của WB). Chênh lệch giữa GDP so với GNI theo đầu người cũng tăng hơn 250% (từ mức 77 năm 2006 lên 278 năm 2014, đã điều chỉnh cho sức mua dựa trên chuẩn đô la quốc tế 2011 của WB).

Những số liệu này cho thấy, lợi ích từ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm qua làm giàu cho khối ngoại nhanh hơn so với làm giàu cho người trong nước, phù hợp với những nhận định của nhiều chuyên gia trong nước.

Tình hình thực tế có thể tệ hơn, vì trong GNI của Việt Nam có một phần không nhỏ là do người Việt Nam tạo ra ở nước ngoài gửi về nước, nên phần nội lực thật sự của DN Việt Nam có thể còn nhỏ hơn quy mô GNI nhiều. Nếu tương lai, người nước ngoài ngày càng gửi nhiều thu nhập về nước họ, còn thu nhập của người Việt Nam tạo ra ở nước ngoài ít chuyển về hơn, thì con số chênh lệch GDP so với GNI càng mở rộng.

Vấn đề ở đây không chỉ là tăng trưởng kinh tế làm giàu cho DN nước ngoài hay trong nước, mà là sau TPP, sự bất cân xứng về cơ hội tiếp cận vốn giữa DN nhỏ với DN lớn, giữa khối nội và khối ngoại sẽ đặt DN nhỏ và vừa Việt Nam vào nguy cơ bị đào thải.

Khi đó, DN nhỏ thiếu vốn, thiếu mạng lưới quan hệ, khó thu hút nhân tài, lại phải cạnh tranh ngang sức với những tập đoàn hàng đầu của Mỹ, Nhật Bản và Singapore. Nó như một khối đá nữa đè lên các DN nhỏ vốn đã vất vả trước sức ép cạnh tranh hiện tại với các tập đoàn lớn nội địa giàu quan hệ và vốn với những DN FDI nhiều ưu đãi.

Kết quả là, sau một thời gian, người ta sẽ có thể nhận thấy thành quả của một Việt Nam hậu TPP sẽ không khác một Việt Nam hậu WTO: người dân sẽ tiếp tục đặt câu hỏi “tăng trưởng để làm gì?”. Cũng vì vậy mà không ít nhà kinh tế trên thế giới, nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz nghi ngờ, thậm chí phản bác lại những dự đoán về tác động tích cực của những hiệp định thương mại kiểu TPP đối với các nền kinh tế yếu hơn.

Dòng trạng thái Facebook khá hay của một người khi bình luận về chuyện Stiglitz có bài phản bác lợi ích TPP là “ông ấy không muốn người ta làm giàu”. Chính xác hơn, có lẽ nên là Stiglitz không muốn “chỉ có một bộ phận nhỏ càng giàu hơn sau TPP”.

Vì vậy, có một viễn cảnh hậu TPP là, Việt Nam sau 10-20 năm tham gia TPP là một nước chỉ có một số ít người giàu chiếm đại bộ phận thu nhập cả nước và chỉ có một số ít DN nội địa lớn mạnh bên cạnh các DN ngoại. Trong khi đó, phần lớn người dân còn lại làm thuê cho DN nước ngoài, các tập đoàn nội địa nhiều quan hệ hoặc chật vật duy trì DN siêu nhỏ của mình. Khi đó, tăng trưởng thêm 8 hay 10% cũng không khiến đại bộ phận người dân sống tốt hơn.

(Theo Baodautu.vn)