Ngộ độc thủy ngân có thể "phá hủy" cơ thể

13:53' 16/12/2015 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Cục trưởng Cục Quản lý môi trường - Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương cho biết, thủy ngân là kim loại lỏng khó phân hủy trong môi trường và tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn. Hơi và các hợp chất, muối của thủy ngân rất độc, có thể gây tổn thương hệ thần kinh, tiêu hóa, hô hấp, hệ thống miễn dịch và thận.

Nguồn chứa thủy ngân độc hại

Cho dù ít độc hơn so với các hợp chất của nó nhưng thủy ngân vẫn gây ô nhiễm đáng kể đối với môi trường, vì nó tạo ra các hợp chất hữu cơ trong cơ thể sinh vật. Có ba nguồn phát thải thủy ngân chính gồm: 10% từ nguồn địa chất tự nhiên, 30% từ hoạt động của con người và 60% thủy ngân “tái-phát thải” từ thủy ngân được thải ra trước đó tích tụ ở lớp đất bề mặt và đại dương hàng thế kỷ qua.

Thủy ngân giải phóng từ chất thải có chứa thủy ngân tồn tại trong môi trường (đất, nước, không khí, trầm tích, thực vật..) hoặc tích tụ trong chuỗi thức ăn và vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ cá và hải sản, hoặc hơi thủy ngân trực tiếp hoặc được hấp thụ trên tóc của con người.

Chương trình môi trường liên hiệp quốc (UNEP) nêu rõ điều đáng lo ngại là ngày càng có nhiều thủy ngân lẫn trong sông hồ vốn luôn là nguồn nước sinh hoạt chính của con người. Theo số liệu của tổ chức này hiện có khoảng 260 tấn thủy ngân lẫn trong dòng nước của các sông hồ trên toàn thế giới, và cũng do hoạt động của con người. Trong vòng 100 năm qua, lượng thủy ngân đã tăng gấp đôi trên bề mặt của các đại dương. Còn ở đáy các đại dương, lượng thủy ngân cũng tăng 25%, cuối cùng chính con người là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả từ thực trạng ô nhiễm trên, mà một trong những nguyên nhân đó là việc sử dụng nguồn thủy sản nhiễm thủy ngân.

Các ảnh hưởng độc hại của thủy ngân đã được biết khá rõ. Nhiễm độc cấp tính thủy ngân thường do tai nạn như vỡ bình chứa, hỏa hoạn. Hơi thủy ngân bốc lên với nồng độ cao ảnh hưởng nghiêm trọng đến hô hấp, gây viêm phế quản, viêm phổi kẽ lan tỏa, viêm thận, đạm huyết tăng nhanh (4-5g urê/l), giảm clo huyết, nhiễm a xit, gây viêm loét miệng, bỏng đường tiêu hóa, nôn ra máu, toàn thân suy sụp. Nạn nhân khó thở, chuột rút, giật cơ, mê sảng và bệnh nhân thường tử vong trong vòng 24 đến 36 giờ.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tác hại không ngờ của thủy ngân

Nguyễn Thị Liên Hương cho biết, nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp do tiếp xúc với nồng độ thấp kéo dài. Các triệu chứng chủ yếu trên hệ tiêu hóa và hệ thống thần kinh. Các ảnh hưởng khác gồm ảnh hưởng đến hệ hô hấp, tiết niệu... 

Về tiêu hóa: Viêm ruột, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm lợi, kèm vị đắng khó chịu, viêm miệng, loét niêm mạc và có thể thấy đường viền thủy ngân màu xanh ở bờ răng lợi.

Về  thần kinh: như run cố ý, bệnh Parkinson với biểu hiện run khi nghỉ và giảm chức năng vận động.

Tiếp xúc mãn tính với thủy ngân có thể gây ra run mí mắt và rối loạn thị giác, viêm màng tiếp hợp, thu hẹp thị trường. Thủy ngân có thể gây ung thư, biến đổi gen và gây quái thai.

Ngoài ra, bệnh nhân có thể có cảm giác đau lan tỏa hay bong da bàn tay và bàn chân.  Từ năm 1976, Việt Nam đã công nhận bệnh nhiễm độc thủy ngân là bệnh nghề nghiệp được đền bù.

Nguồn chứa thủy ngân

Thủy ngân được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như hóa chất, phân bón, chất dẻo, kỹ thuật điện, điện tử, xi măng, sơn, tách vàng bạc trong các quặng sa khoáng, sản xuất các loại đèn huỳnh quang, pin, phong vũ kế, nhiệt kế, huyết áp kế, mỹ phẩm...

Theo báo cáo, Việt Nam có 4 ngành chính liên quan đến sử dụng và phát thải thủy ngân gồm sản xuất và sử dụng thiết bị chiếu sáng, đốt than từ nhà máy phân bón, lĩnh vực y tế và khai thác vàng thủ công quy mô nhỏ.

Hiện nay có khoảng 70 triệu bóng đèn huỳnh quang được sản xuất một năm tại Việt nam, sử dụng 3000 kg thủy ngân lỏng và 64 triệu hạt thủy ngân và làm phát thải khoảng 350.000 mg chất thải thủy ngân mỗi năm. Các nhà máy phân bón tiêu thụ khoảng 220.000 tấn than/năm (140.000 tấn than cục và 80.000 tấn than cám). Lượng thủy ngân phát thải từ than cục là 0,4 ppm và từ than cám là 0,2 ppm. Cho đến nay chưa có số liệu cụ thể về lượng thủy ngân sử dụng và phát thải từ hoạt động khai thác vàng thủ công quy mô nhỏ không chính quy.

Trong lĩnh vực y tế, thủy ngân đã được sử dụng để chữa bệnh trong nhiều thế kỷ. Thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh, thủy ngân được dùng để điều trị giang mai. Thuốc có chứa thủy ngân để điều trị các triệu chứng bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng, lợi tiểu, sát trùng. Các hợp chất có chứa thủy ngân như Thimerosal được sử dụng trong một số sản phẩm nhãn khoa, dạng phun sương mũi họng, và vaccin; các sản phẩm tẩy trắng và một số hóa chất trong phòng thí nghiệm cũng chứa thủy ngân cũng như hỗn hợp Almagam trong nha khoa và pin. Ngoài ra nhiệt kế và huyết áp kế chứa thủy ngân được phát minh từ thế kỷ 18, 19 và được sử dụng cho đến ngày nay. Tại một số cơ sở y tế còn sử dụng thiết bị tháo lồng ruột có cột thủy ngân để kiểm soát áp lực khí bơm vào ruột bệnh nhân.

Chất thủy ngân xuất phát từ đâu?

Thủy ngân (dạng vô cơ, dạng oxyde, dạng ion) được sử dụng khá nhiều trong công nghiệp và đời sống, chẳng hạn các loại pin thủy ngân, nhiệt kế, bình thủy, đèn neon (dạng hơi), thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm, dạng khí thải từ lò đốt rác. Trong lĩnh vực y tế, thủy ngân được pha chế làm thuốc đỏ khử trùng (Mercure au chrome), hợp chất trám răng Amalgame… Các sản phẩm có thủy ngân thải ra môi trường làm ô nhiễm không khí, mặt đất; nhưng quan trọng nhất là ô nhiễm nguồn nước – đặc biệt là nguồn nước biển. Trong môi trường nước biển, các loài vi khuẩn ưa mặn sẽ biến đổi nguồn thủy ngân vô cơ (ít độc) thành thủy ngân hữu cơ (methyl mercury) có độc tính cao. Các phiêu sinh vật là nguồn cảm nhiễm đầu tiên, kế đó là các loài cá nhỏ, rồi cá lớn (cá săn mồi). Con người là chuỗi mắt xích cuối cùng nhiễm thủy ngân, sau khi ăn các loài cá có nhiễm chất này.

Hầu hết thủy ngân làm ô nhiễm không khí và nước đều xuất phát từ việc khai thác quặng, sản xuất công nghiệp nặng và từ các nhà máy điện chạy bằng than…

Độc tính của thủy ngân

Khi xâm nhập vào cơ thể, thủy ngân có thể liên kết với những phân tử như nucleic acid, protein.... làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào. Sự nhiễm độc thủy ngân gây nên những thương tổn trung tâm thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó khăn trong diễn đạt, giảm sút trí nhớ ... và nặng hơn nữa có thể gây tê liệt, nghễnh ngãng, nói lắp, thao cuồng. Nếu nhiễm độc thủy ngân qua đường ăn uống với liều lượng cao, một thời gian sau (có thể từ 10 - 20 năm) sẽ gây tử vong.

Sự biến đổi độc tính của thủy ngân 

Độc tính này sẽ tăng dần nếu có hiện tượng tích luỹ sinh học. Sự tích luỹ sinh học là quá trình thâm nhiễm vào cơ thể gây nhiễm độc mãn tính. Quá trình này diễn ra gồm hai giai đoạn: Sự tích luỹ sinh học bắt đầu bởi cá thể, sau đó được tiếp tục tích lũy nhờ sự lan truyền giữa các cá thể, từ động vật ăn cỏ, động vật ăn cá, cho đến con người. Do đó nồng độ thủy ngân được tích luỹ dần dần cho đến khi “tới ngưỡng” gây hại. Hiện tượng tích luỹ sinh học này rất nguy hiểm, nhất là với methyl thủy ngân - xuất phát từ môi trường lúc đầu ít ô nhiễm (nồng độ thủy ngân thấp), nồng độ đó có thể tăng lên đến hàng nghìn lần và trở thành rất độc.

Những phụ nữ có thai, những trẻ sơ sinh còn bú mẹ và các trẻ nhỏ dễ bị nguy hiểm nhất, bởi vì một lượng lớn thủy ngân có thể gây hại cho não bộ đang phát triển. Nếu bà mẹ dùng nhiều các loại cá biển (loại chứa hàm lượng thủy ngân cao), thì sự phát triển não bộ của đứa bé có thể bị ảnh hưởng và thậm chí là thủy ngân tích lũy sẽ gây biến chứng nặng về sau, hoặc gây ra những vấn đề về sự thông minh của trẻ…