|
(VnMedia) - Theo thống kê trong Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn III, kể từ năm 2011 nước ta đã chịu thâm hụt với Trung Quốc và mức thâm hụt này tăng liên tục ở những năm tiếp theo. Bằng chứng, giai đoạn 2001 - 2010 nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhập siêu của các nước mà Việt Nam có nhập siêu.
Báo cáo của Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn III cho thấy, trong những năm vừa qua tình hình nhập siêu hàng hoá tại Việt Nam đang có xu hương tăng liên tục.
Bằng chứng là trong năm 2001, nhập siêu hàng hoá của nước ta mới chỉ ở mức 1,2 tỷ USD, song đã tăng mạnh và đạt gần 5,1 tỷ USD vào năm 2006. Đặc biệt, sau khi nước ta gia nhập WTO nhập siêu hàng hoá còn tăng nhanh hơn, lần lượt đạt tới 14,2 tỷ USD và 18 tỷ USD trong các năm 2007 và 2008.
Tuy nhiên, trong những năm sau đó, cùng với tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và các chính sách kìm chế nhập siêu, tình trạng này đã giảm xuống còn 12,9 tỷ USD vào năm 2009 và 12,4 tỷ USD vào năm 2010.
Như vậy có thể thấy, tốc độ nhập siêu bình quân đã ở mức gần 30%/năm trong giai đoạn 2000 - 2006, đã tăng tới 88,7%/năm trong các năm 2006 - 2008, sau đó giảm còn khoảng 17,1%/năm trong giai đoạn 2008 - 2010.
Xét theo nhập siêu trong giai đoạn 2001 - 2010, nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhập siêu của các nước mà Việt Nam có nhập siêu. Đặc biệt, tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với nhập siêu hàng hoá của nước ta đã đạt 61,7% vào năm 2008 lên tới 154% vào năm 2010.
Mức độ thâm hụt giữa Việt Nam với Trung Quốc kể từ khi ký kết ACFTA đã tăng rất nhanh. Từ việc thặng dư thương mại vào năm 2000 (hơn 135 triệu USD), nước ta đã chịu thâm hụt với Trung Quốc vào năm 2001, và mức thâm hụt này đã tăng liên tục, đặc biệt là từ năm 2006.
Chia sẻ về nguyên nhân gây ra thâm hụt thương mại nghiêm trọng với Trung Quốc, các chuyên gia của Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn III cho rằng, ngành công nghiệp phụ trợ trong nước yếu kém, Việt Nam phải nhập khẩu các nguyên liệu vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước và cho xuất khẩu. Tuy nhiên, do gần về mặt địa lý và Trung Quốc lại có những loại đầu vào phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp trong nước, nên nhập khẩu từ thị trường này tăng.
Cũng theo các chuyên gia của Dự án này, đối với nhóm hàng hoá máy móc thiết bị, do giá cả phù hợp với khả năng tài chính của các doanh nghiệp trong nước, hàng sản xuất và bán không đòi hỏi khắt khe về mặt tiêu chuẩn chuất lượng, nên các doanh nghiệp có xu hướng chọn nhập các loại máy móc thiết bị từ Trung Quốc.
Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta là giày dép, dệt may, linh kiện điện tử và máy tính thì lại xuất sang các thị trường EU hoặc Hoa Kỳ mà không thể tìm sang được Trung Quốc, do họ cũng đang có lợi thế so sánh ở các mặt hàng này.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục trúng thầu các công trình và dự án lớn, hơn nữa các gói thầu mà các doanh nghiệp Trung Quốc trúng lại thường được thực hiện theo hình thức EPC, có nghĩa là các nhà thầu Trung Quốc làm trọng gói từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng, còn các chủ đầu tư trong nước làm công đoạn cuối là vận hành và sử dụng. Điều này dẫn đến tình trạng các công trình đều nhập thiết bị, đầu vào từ Trung Quốc, qua đó làm tăng áp lực đối với nhập siêu.
Theo ông Phan Văn Chinh, Vụ trưởng Vụ xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, trong chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011- 2020, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tăng gấp 3 lần năm 2010, bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD và cán cân thương mại được cân bằng.
Vì vậy, để giảm nhập siêu biện pháp quan trọng hàng đầu là tăng nhanh xuất khẩu, do đó cần triển khai có hiệu quả các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu. Kiểm soát nhập khẩu một cách có hiệu quả thông qua chính sách thuế, các biện pháp thương mại công bằng, các biện pháp phi thuế quan nhằm hạn chế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng chưa thiết yếu đối với nhân dân.
Cùng với đó, phải rà soát và đánh giá việc cấp quyền phân phối hàng tiêu dùng tại Việt Nam cho các doanh nghiệp FDI và đề xuất biện pháp quản lý, ngăn ngừa tình trạng các doanh nghiệp chuyển từ hoạt động sản xuất sang chuyên doanh nhập khẩu để phân phối sản phẩm.
Yến Nhi
|