|
(VnMedia) - Hôm nay (22/11), Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương. Đây là Báo cáo cập nhật tình hình và đánh giá toàn diện các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, được phát hành 2 lần/năm.
Lạm phát khó giảm ngay
Theo Báo cáo, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2011 chậm lại do Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế là 5,6% trong nửa đầu năm 2011, và dự kiến sẽ vào khoảng 5,8% trong cả năm, so với mức 6,8% trong năm 2010.
Thâm hụt thương mại dự kiến sẽ được cải thiện trong năm 2011. Tăng trưởng nhập khẩu chậm lại do các chính sách bình ổn kinh tế, trong khi tăng trưởng xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao. Lợi nhuận xuất khẩu tăng 33,7% và hóa đơn nhập khẩu tăng 25,4% trong 8 tháng đầu năm 2011. Giá trị xuất khẩu dầu thô tăng 52% mặc dù khối lượng xuất khẩu chỉ tăng 5%.
Lạm phát thông thường trong tháng 8/2011 tăng tới 23% (so với cùng kỳ năm trước) - mức cao nhất kể từ tháng 11/2008. Đến tháng 10, lạm phát hàng tháng đã giảm xuống khoảng 1% khi các biện pháp bình ổn bắt đầu có hiệu lực.
Tuy nhiên Báo cáo này cho rằng lạm phát sẽ không giảm mạnh trong tương lai gần do các yếu tố như giá hàng hóa cao, lương tối thiểu được điều chỉnh, giá điện có thể tăng và kỳ vọng của thị trường chính sách tín dụng sẽ được nới lỏng hơn trong quý cuối năm 2011.
Ngân hàng vẫn là quan ngại lớn
Về thị trường tài chính tín dụng, Báo cáo cho rằng áp lực với người đi vay sẽ lớn hơn nữa trong những tháng tới, dẫn đến chất lượng tài sản của các ngân hàng suy giảm trong năm 2011-2012. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hỗ trợ các ngân hàng yếu hơn thông qua việc bơm thanh khoản, nhưng cũng đã ám chỉ rằng nếu những ngân hàng nhỏ này không đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngành thì sẽ bắt buộc phải sáp nhập.
Tuy nhiên, trong điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô yếu kém, các nhà quản lý ngân hàng vẫn lưỡng lự khi buộc các ngân hàng hợp nhất hoặc để một số ngân hàng phải phá sản. Những vấn đề chưa thể giải quyết được trong ngành ngân hàng có thể vẫn là mối quan ngại với Việt Nam trong những năm tới. Chính sách tài khoá tiếp tục được thực hiện thắt chặt thông qua các biện pháp giảm chi. Mức cắt giảm ước tính khoảng 80 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 3% GDP. Trong khi đó, Bộ Tài chính báo cáo tổng doanh thu tăng gần 23% trong 6 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ năm 2010. Thâm hụt ngân sách năm nay dự kiến giảm xuống 5% GDP từ mức 5,6% năm 2010 (theo định nghĩa của chính phủ về thâm hụt ngân sách). Kế hoạch củng cố tài khóa chậm hơn dự kiến và thiếu triển vọng tài khóa trung hạn cùng với tình trạng nợ công lâu dài vẫn là một mối quan ngại lớn đối với các chủ đầu tư. Chưa nên nới lỏng chính sách
Trong một cuộc họp gần đây với một số các đối tác phát triển, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã tái khẳng định cam kết của Chính phủ trong việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11. Thủ tướng cũng khẳng định rằng kiểm soát lạm phát sẽ vẫn là ưu tiên hàng đầu của chính phủ, và Việt Nam sẽ không “đuổi theo” mục tiêu tăng trưởng cao.
Mục tiêu lạm phát một con số và tốc độ tăng trưởng trung bình 6,5% được đặt ra cho năm 2012. Thủ tướng đã nhấn mạnh một số ưu tiên cho thời gian còn lại của năm 2011, bao gồm: (i) tiếp tục chính sách tiền tệ và tín dụng thắt chặt; (ii) đảm bảo chính sách tài khóa thận trọng; (iii) thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và lĩnh vực ngân hàng, và (iv) đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội để duy trì ổn định chính trị cho đất nước. Theo nhận định của Báo cáo, những kết quả từ công cuộc bình ổn nền kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thực sự vững chắc, do đó việc nới lỏng chính sách quá sớm sẽ có nguy cơ lặp lại những bất ổn đã xảy ra gần đây.
Việc cam kết thực hiện các biện pháp củng cố tài khóa và những yêu cầu cơ cấu được đề ra trong Nghị quyết 11, bao gồm tái cơ cấu và cải cách lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước và lĩnh vực tài chính sẽ giúp Việt Nam khôi phục lại môi trường kinh tế vĩ mô bền vững, đồng thời xây dựng nền tảng để đạt được hiệu quả và năng suất cao hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng trung và dài hạn.
Nhưng để thực hiện được các yêu cầu cải cách cơ cấu sâu rộng này đòi hỏi năng lực lãnh đạo mạnh mẽ, lộ trình triển khai thận trọng, hỗ trợ từ các đối tác phát triển và các nhà đầu tư nước ngoài cũng như yêu cầu Việt Nam có thể phải hy sinh một số lợi ích về ngắn hạn.
Hoàng Yến
|