Những thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam

08:19' 14/04/2019 (GMT+7)
|
 – Theo thống kê, các thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông sản, thủy sản Việt Nam lần lượt là Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản của Việt Nam sang 6 thị trường này trong năm 2018 đạt 20,31 tỷ USD, chiếm 76,4% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản của cả nước.
 
Xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam vẫn duy trì kết quả tích cực 
 
Theo Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2018 vừa được Bộ Công Thương công bố, trong bối cảnh thương mại nông, thủy sản thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp với những biến động khó lường, quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa các nền kinh tế lớn trở nên căng thẳng, chủ nghĩa bảo hộ đang xuất hiện trở lại, xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam vẫn duy trì được kết quả tích cực trong năm 2018.
 
Xuất khẩu 9 nhóm mặt hàng nông sản, thủy sản chính tăng 2,0% so với năm trước, lên mức 26,6 tỷ USD. Phần lớn các mặt hàng nông sản, thủy sản đều được tiêu thụ kịp thời, đảm bảo nguồn cung dồi dào phục vụ tốt nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
 
Về tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhóm nông sản, thủy sản giảm chỉ còn chiếm 10,9%, so với mức 12,1% tổng xuất khẩu cả nước năm 2017. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của nhóm hàng nông sản, thủy sản là 6 mặt hàng (giảm 2 mặt hàng so với năm trước là hạt tiêu và sắn và các sản phẩm từ sắn).
 
Xét về giá trị tuyệt đối, kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng đã tăng 515 triệu USD so với năm 2017. Tăng trưởng xuất khẩu tập trung ở ba nhóm hàng chủ lực là thủy sản, rau quả và gạo.
 
Cũng theo Báo cáo xuất nhập khẩu 2018, 4 mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhóm nông sản, thủy sản đạt mức tăng trưởng dương so với năm 2017 là thủy sản đạt kim ngạch 8,8 tỷ USD, tăng 5,8%; rau quả đạt 3,81 tỷ USD, tăng 8,8%; cà phê đạt 1,88 triệu tấn, trị giá đạt 3,54 tỷ USD, tăng 19,9% về lượng và 1,1% về trị giá; gạo đạt 6,12 triệu tấn, trị giá đạt 3,06 tỷ USD, tăng 5,1% về lượng và tăng 16,3% về trị giá.
 
Xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam vẫn duy trì được kết quả tích cực trong năm 2018. Ảnh minh họa
Xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam vẫn duy trì được kết quả tích cực trong năm 2018. Ảnh minh họa
 
Trong khi đó, năm 2018, có 5 mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhóm nông sản, thủy sản có kim ngạch giảm so với năm 2017 là hạt điều đạt 373 nghìn tấn, trị giá đạt 3,37 tỷ USD, tăng 5,9% về lượng nhưng giảm 4,2% về trị giá; cao su đạt 1,56 triệu tấn, trị giá đạt 2,09 tỷ USD, tăng 13,3% về lượng nhưng giảm 7,0% về trị giá; sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 2,43 triệu tấn, trị giá đạt 958 triệu USD, giảm 38,0% về lượng và giảm 7,1% về trị giá; hạt tiêu đạt 233 nghìn tấn, trị giá đạt 759 triệu USD, tăng 8,3% về lượng nhưng giảm 32,1% về trị giá và chè đạt 127 nghìn tấn, trị giá đạt 218 triệu USD, giảm 8,6% về lượng và giảm 4,1% về trị giá.
 
Theo Bộ Công Thương, tuy số lượng mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng ít hơn so với số lượng các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, nhưng 4 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng đều là các mặt hàng nằm trong top 5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất nhóm nông sản, thủy sản. Riêng 4 mặt hàng này đã đóng góp 1,26 tỷ USD vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu.
 
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam
 
Báo cáo xuất nhập khẩu 2018 của Việt Nam cũng chỉ rõ, năm 2018, các thị trường xuất khẩu lớn nhất của nông sản, thủy sản Việt Nam lần lượt là Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ, ASEAN, Nhật Bản và Hàn Quốc.
 
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản của Việt Nam sang 6 thị trường này trong năm 2018 đạt 20,31 tỷ USD, chiếm 76,4% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản của cả nước.
 
Trong đó: Thị trường Trung Quốc xuất khẩu nông sản, thủy sản năm 2018 đạt 7,26 tỷ USD, giảm 5,5% so với năm 2017 với các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn đều ghi nhận sụt giảm như: gạo, thủy sản, cao su, sắn, hạt điều. Rau quả trở thành mặt hàng nông sản lớn nhất xuất khẩu sang Trung Quốc với kim ngạch 2,78 tỷ USD, tăng 5,1%.
 
Trong khi đó, đứng vị trí thứ 2 là thị trường EU, với kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản đạt 3,96 tỷ USD, giảm 5,2% so với năm 2017. Những mặt hàng ghi nhận xuất khẩu tăng là gạo, rau quả, thủy sản, chè. Trong khi đó, xuất khẩu giảm do giảm mạnh ở mặt hàng hạt tiêu, hạt điều và cao su.
 
Tiếp theo là thị trường Hoa Kỳ, với kim ngạch là 3,54 tỷ USD, tăng 3,1% so với năm 2017. Đây là thị trường đứng đầu của Việt Nam về xuất khẩu hồ tiêu, đứng thứ 2 về cà phê, thủy sản.
 
Xuất khẩu nông sản, thủy sản sang ASEAN năm 2018 đạt 2,64 tỷ USD, tăng 42,7%, trong đó các mặt hàng có tăng trưởng xuất khẩu là thủy sản, gạo, rau quả, chè, cà phê. Trong đó, xuất khẩu gạo đạt mức tăng trưởng cao nhất với mức tăng 118,5% nhờ tăng trưởng mạnh ở thị trường Indonesia và Philippines.
 
Riêng xuất khẩu nông sản, thủy sản sang Nhật Bản năm 2018 đạt 1,77 tỷ USD, tăng 2,2% so với năm 2017, trong đó xuất khẩu lớn nhất là thủy sản đạt 1,39 tỷ USD, tăng 6,4%.
 
Xuất khẩu nông sản, thủy sản sang thị trường Hàn Quốc năm 2018 đạt 1,15 tỷ USD, tăng 6,7% so với năm 2017. Thời gian tới, các mặt hàng nông sản, thủy sản có dư địa thúc đẩy xuất khẩu gồm tôm, mực và bạch tuộc, chả cá, surimi, rau quả chế biến, cà phê, cao su, hạt điều.
 
Yến Nhi
Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)