http://vnmedia.vn/kinh-te/201805/truyen-hinh-truc-tuyen-quoc-hoi-thao-luan-quan-ly-von-tai-san-co-phan-hoa-doanh-nghiep-nha-nuoc-604169/v3.txt
Truyền hình trực tuyến: Quốc hội thảo luận quản lý vốn, tài sản, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Truyền hình trực tuyến: Quốc hội thảo luận quản lý vốn, tài sản, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

08:14' 28/05/2018 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Hôm nay ( 28/5), Quốc hội tiến hành thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2016.

Theo chương trình Kỳ họp thứ 5, mở đầu phiên họp, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo của Đoàn giám sát của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2016.

Tiếp đó, Quốc hội tiến hành thảo luận về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2016.

*Xem trực tuyến tại đây:

 

Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV


Trước đó, thực hiện kế hoạch giám sát, Đoàn giám sát của Quốc hội đã làm việc với nhiều Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty và một số doanh nghiệp nhà nước; làm việc với Thường trực Chính phủ, nghe báo cáo về kết quả quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 – 2016.

Sau khi tập hợp báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương và báo cáo của Đoàn đại biểu Quốc hội các địa phương, Đoàn giám sát đã hoàn thiện Báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2016 trình Quốc hội xem xét.

Theo báo cáo, quy mô vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước đều tăng. Năm 2016, tổng vốn chủ sở hữu của các DNNN là 1,398 triệu tỷ đồng, tăng 92,2% so với năm 2011, quy mô tổng tài sản là 3,053 triệu tỷ đồng, tăng 45,8% so với năm 2011.

Tuy nhiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN cầm chừng, hiệu suất sử dụng vốn chưa cao do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới trong giai đoạn 2011-2013. Từ giai đoạn 2014-2015, DNNN hoạt động hiệu quả hơn, nhưng tới 31/12/2016 vẫn còn DNNN kinh doanh thua lỗ.

Tổng hợp kết quả của 350 DNNN sau cổ phần hoá sau năm 2015 cho thấy, bình quân lợi nhuận trước thuế tăng 49%, nộp ngân sách tăng 27%, vốn điều lệ tăng 72%, doanh thu tăng 29%, thu nhập bình quân người lao động tăng 33%,... Tiền thu được từ cổ phần hoá được quản lý chặt chẽ, thực hiện các nhiệm vụ chi quan trọng của quốc gia theo quy định của luật pháp. Tuy nhiên, quản lý và sử dụng tài sản Nhà nước, cổ phần hoá DNNN vẫn còn nhiều hạn chế cần tiếp tục được khắc phục bằng việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật.

Theo nhận xét của Đoàn giám sát, hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2016 đã "từng bước được hoàn thiện trong thời gian qua".

Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước mặc dù vẫn còn những mặt tồn tại, hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư; vẫn còn những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, gây bức xúc trong dư luận xã hội, nhưng không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực của khối doanh nghiệp này trong thời gian qua.

Doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục góp phần quan trọng trong xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. 

Trong phần hạn chế, báo cáo nêu, tổng số nợ phải trả của doanh nghiệp nhà nước cao, tăng 26% so với năm 2011 (từ gần 1,3 triệu tỷ đồng lên hơn 1,6 triệu tỷ đồng); hiệu suất sinh lời trên vốn kinh doanh của các DNNN đạt 2,1% năm 2015, thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (năm 2015 là 5,5%).

Lũy kế tính đến 31/12/2016, doanh nghiệp nhà nước đã đầu tư ra nước ngoài trên 7 tỷ USD, có 25,5% dự án báo lỗ, 29% dự án lỗ lũy kế. Lợi nhuận được chia cho bên Việt Nam năm 2016 là 145 triệu USD - tương đương trung bình 2% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài thực hiện. Nhiều dự án đang tiềm ẩn rủi ro về pháp lý tại nước sở tại (như bị rút ngắn thời gian triển khai dự án, tranh chấp đất đai) và rủi ro thị trường (như giá đầu ra giảm mạnh) ảnh hưởng lớn đến hiệu quả dự án...

Xác định giá trị tài sản đất đai trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp còn nhiều bất cập

Theo kết quả giám sát, đã có 571 doanh nghiệp cổ phần hoá trong 6 năm qua, các chỉ số kinh doanh tại hầu hết DNNN đều tăng sau bán vốn nhà nước, tổng tài sản tăng 39%, doanh thu 29%, thu nhập bình quân của người lao động 33%... Đến cuối 2015, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã thoái vốn được gần 10.000 tỷ đồng.

Song không phải việc cổ phần hoá đều diễn ra thuận lợi. Tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ ở các công ty cổ phần còn cao. Lượng cổ phần chào bán ra công chúng đạt thấp so với phương án cổ phần hóa doanh nghiệp, có nhiều tổng công ty tỷ lệ bán ra ngoài được rất nhỏ (chỉ khoảng 1% -2% vốn điều lệ), dẫn đến chưa đạt mục tiêu của cổ phần hóa là đổi mới quản trị và thu hút vốn từ bên ngoài

Đến tháng 8/2017, còn 747 doanh nghiệp cổ phần hóa chưa đăng ký lưu ký và giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán; chậm bàn giao các doanh nghiệp đã cổ phần hóa về SCIC. 

Ông Vũ Hồng Thanh cho biết, tồn tại chủ yếu của DNNN trong cổ phần hoá là sai phạm trong xác định sai lệch giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá nhằm chiếm dụng vốn. Có trường hợp xác định giá trị doanh nghiệp vượt quá 18 tháng nhưng không thực hiện các thủ tục xác định lại giá trị doanh nghiệp.

Khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá, còn có trường hợp doanh nghiệp không tính hoặc tính thiếu giá trị quyền sử dụng đất, dẫn đến giá đất xác định thấp hơn giá thị trường. Sau cổ phần hoá, doanh nghiệp không đưa đất vào sử dụng mà tự ý chuyển mục đích sử dụng đất và không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định, còn để tình trạng đất bị lấn chiếm...

Đại biểu Nguyễn Minh Sơn (Tiền Giang) đưa ra nhìn nhận về xác định giá trị tài sản đất đai trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp còn nhiều bất cập: Cổ phần hóa DNNN, xử lý đất đai và xác định quyền sở hữu đất đai trong giá trị cổ phần hóa là vấn đề được quan tâm nhất. Theo báo cáo của Kiểm toán nhà nước , khi thực hiện cổ phần hóa 2011-2015, đều không tính giá trị quyền thuê đất vào giá trị cổ phần hóa. Một số doanh nghiệp có vị trí đất đai đắc địa, không tính giá trị quyền thuê đất vào giá khởi điểm khiến giá trúng thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế.

Ví dụ, việc cổ phần hóa khách sạn Kim Liên (Hà Nội), giá khởi điểm 30.600 đồng/CP, giá trúng 274.200 đồng/CP. Công ty CP Ong Trung Ương, giá khởi điểm 15.000 đồng/CP, giá trúng 116.000 đồng/CP.

Đới với doanh nghiệp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm theo Nghị định số 59 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Tiền thuê đất không tính vào giá trị doanh nghiệp và giá trị lợi thế. Quyền thuê đất cũng không được tính vào giá trị doanh nghiệp.

Đại biểu Sơn phân tích, cách tính tiền thuê đất một năm, được tính bằng cách diện tích đất thuê*đơn giá thuê đất hàng năm (tỷ lệ phần trăm*giá đất tính thuê đất).

Trong đó, tỷ lệ % đối với đất thuê trong các đô thị có lợi thế thương mại, giao thông có khả năng sinh lời đặc biệt, có lợi thế kinh doanh, cho thuê thì căn cứ vào thực tế, UBND cấp tỉnh, quyết định tỷ lệ % để xác định tiền thuê đất hàng năm nhưng tối đa không quá 3%. Con số 3% thấp hơn lãi suất gửi ngân hàng một năm.

Điều này cho thấy, việc xác định giá đất tại nhiều địa phương còn lúng túng. Bộ máy giám sát tại các cấp chưa đáp ứng nhu cầu thông tin về giá đất thị trường còn thiếu.

 

VnMedia

Thông tin thời tiết
25°9° - 18°Trời đẹp
  • 19/12

    9° - 21°

  • 20/12

    9° - 21°

  • 21/12

    9° - 21°

  • 22/12

    13° - 21°