Hướng dẫn chi tiết giải đề thi môn Ngữ Văn vào lớp 10 ở Hà Nội

20:58' 02/06/2019 (GMT+7)
|

 - Dưới đây là hướng dẫn chi tiết giải đề thi môn Ngữ Văn vào lớp 10 ở Hà nội do các giáo viên Tổ Ngữ Văn – Hệ thống giáo dục HOCMAI thực hiện.

Đề thi Tuyển sinh vào lớp 10 môn Văn của Thành phố Hà Nội năm nay giữ cấu trúc quen thuộc với hai phần, kiểm tra toàn diện các kiến thức tiếng Việt, văn và kĩ năng viết các đoạn văn nghị luận.

Cụ thể, ở Phần I, đề thi hỏi về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh. Các câu hỏi đều kiểm tra các kiến thức cơ bản, với những dạng hỏi khá quen thuộc như xác định thể thơ, phân tích tác dụng của phép tu từ … Câu 4, yêu cầu viết đoạn văn cảm nhận khổ thơ cuối bài, chiếm trọng số điểm cao nhất của đề thi, đòi hỏi các em trình bày bài không chỉ đủ ý, mạch lạc mà còn phải đảm bảo các yêu cầu về hình thức đoạn văn, về phần tiếng Việt.

Tuy nhiên, điểm mới rất đáng chú ý trong đề thi năm nay là ở Phần II của đề thi, thay vì một đoạn văn được trích ra từ một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 9 thì lại là một văn bản nghị luận bàn về cách ứng xử của các bạn trẻ khi gặp hoàn cảnh khó khăn. Đây có thể là một bất ngờ với các thí sinh nhưng đoạn văn bản dùng làm ngữ liệu để hỏi trong đề thi lấy nguồn từ sách giáo khoa Ngữ văn 9, các câu hỏi xoay quanh việc kiểm tra các kiến thức tiếng Việt, kĩ năng đọc hiểu và nghị luận xã hội tương đối quen thuộc nên các em cũng sẽ không gặp nhiều khó khăn – Thầy Nguyễn Phi Hùng – Giáo viên Ngữ văn, Hệ thống Giáo dục HOCMAI nhận định.

Nhìn chung đề thi năm nay có điểm mới so với đề thi năm ngoái ở chỗ: Cấu trúc và barem điểm được điều chỉnh từ 6/4 sang 7/3;  ngữ liệu được mở rộng không chỉ trong các văn bản chính thức học sinh được học trong sách giáo khoa, tuy nhiên ngữ liệu vẫn nằm trong sách. Câu hỏi liên quan đến nghị luận xã hội cũng mang tính mở hơn, yêu cầu học sinh trình bày những suy nghĩ của cá nhân, có tính liên hệ thực tiễn.

Cô Đỗ Khánh Phương, Giáo viên Ngữ văn tại HOCMAI cũng cho biết: “Đề thi năm nay có nhiều thay đổi so với năm trước, tính phân loại của đề thi hợp lí hơn do việc thay đổi trong việc sử dụng ngữ liệu, cách thức ra đề thi. Ở phần 2: Đoạn văn gây bất ngờ vì không nằm trong văn bản đọc hiểu nhưng lại nằm trong phần luyện tập sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 2 trang 11 và là đoạn nghị luận xã hội. Điều này sẽ tránh được tình trạng học tủ của học sinh”.

Dưới đây là hướng dẫn chi tiết giải đề môn Ngữ văn vào lớp 10 ở Hà Nội:

Phần

Câu

Nội dung

I

1

- Bài thơ Sang thu được sáng tác theo thể thơ năm chữ.

- Hai tác phẩm khác trong chương trình Ngữ văn 9 cùng viết theo thể thơ này là Ánh trăng của Nguyễn Duy và Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải.

2

- Trong khổ thơ đầu, tác giả đón nhận thu về với “hương ổi” bằng khứu giác, “gió se” bằng xúc giác và “sương chùng chình” bằng thị giác.

-  Từ “bỗng” cho thấy cảm giác bất ngờ, ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Từ “hình như” như một sự phỏng đoán, chưa rõ ràng, còn mơ hồ của nhà thơ trước giây phút giao mùa của đất trời.

3

Câu thơ “Sương chùng chình qua ngõ” sử dụng phép tu từ nhân hoá qua từ láy “chùng chình” có tác dụng:

- Gợi tả màn sương mỏng, mềm mại, giăng đầy đường thôn ngõ xóm đang chuyển động nhẹ nhàng, thong thả như cố tình chậm lại.

- “Sương” ở đây dường như cũng mang dáng vẻ, tâm trạng của con người lúc sang thu, cố ý chậm lại để cảm nhận khoảnh khắc giao mùa.

4

1. Hình thức

- Đoạn văn đảm bảo dung lượng: 12 câu.

- Hình thức lập luận: tổng hợp - phân tích - tổng hợp.

- Đoạn văn không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, chính tả, ngữ pháp.

- Thực hiện đủ yêu cầu Tiếng Việt trong bài viết: có sử dụng câu bị động và câu có thành phần cảm thán.

2. Nội dung

a. Xác định vấn đề cần nghị luận

Cảm nhận tinh tế và sâu sắc của tác giả trong khổ cuối của bài thơ Sang thu.

b. Triển khai vấn đề

- Cảm nhận tinh tế của tác giả về sự thay đổi của thiên nhiên:

Hình ảnh “nắng”, “mưa”, “sấm” đi cùng với từ ngữ chỉ mức độ, thể hiện những cảm nhận tinh tế của tác giả trước sự thay đổi của cảnh vật lúc sang thu.

- Cảm nhận tinh tế của tác giả về con người và cuộc đời:  

Từ những hình ảnh quen thuộc, tác giả đã tạo nên những hình ảnh ẩn dụ “sấm” và “hàng cây đứng tuổi” để thể hiện suy ngẫm, chiêm nghiệm sâu sắc.

+ Con người từng trải sẽ vững vàng trước những “giông bão” của cuộc đời.

+ Đất nước vừa đi qua mưa bom bão đạn, cuộc sống của con người thay đổi, con người cần bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

II

1

Học sinh chỉ cần xác định được một phép liên kết và từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết.

- Trong hai câu văn in nghiêng có sử dụng các phép liên kết: phép thế, phép nối.

- Từ ngữ dùng làm phương tiện liên kết:

+ Phép thế: “hoàn cảnh ấy” thay thế cho cụm từ “Hoàn cảnh bức bách”.

+ Phép nối: từ nối “Nhưng”.

2

Theo tác giả, những cách ứng xử của con người khi gặp “hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục” là:

- Bi quan, thất vọng, chán nản, thối chí.

- Gồng mình vượt qua.

3

Học sinh có thể làm theo nhiều hình thức khác nhau, dưới đây là gợi ý:

1. Về hình thức

Bài viết có dung lượng khoảng 2/3 trang giấy, đảm bảo đúng cấu trúc ngữ pháp, ngôn ngữ diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, không mắc lỗi chính tả. Khuyến khích bài viết có những sáng tạo riêng.

2. Về nội dung

a. Xác định vấn đề cần nghị luận

Hoàn cảnh khó khăn là cơ hội để mỗi người khám phá khả năng của chính mình.

b. Triển khai vấn đề

- Giải thích:

+ Hoàn cảnh khó khăn là những cản trở, trở ngại của các nhân tố khách quan có ảnh hưởng đến con người.

+ Cơ hội là hoàn cảnh thuận lợi gặp được để thực hiện điều mong muốn, dự định.

- Bình luận, chứng minh:

Học sinh đưa ra quan điểm cá nhân và lí do phù hợp. Có thể tham khảo gợi ý sau:

+ Khó khăn là một phần tất yếu của cuộc sống, hoàn cảnh khó khăn là môi trường rèn luyện bản lĩnh sống của mỗi người.

+ Trong hoàn cảnh khó khăn, con người có thể khám phá được những khả năng tiềm ẩn của chính mình.

- Bàn luận mở rộng:

+ Phê phán thái độ sống nhu nhược, dễ khuất phục trước khó khăn.

+ Phê phán thái độ sống đổ lỗi cho hoàn cảnh.

- Rút ra bài học nhận thức và hành động.

Hoàng Hải

Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)