Chính thức đưa quy định về kỷ luật cán bộ đã nghỉ hưu vào Luật

11:58, 21/02/2019
|

(VnMedia) - Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức (đang được đưa ra lấy ý kiến) đã chính thức đưa điều khoản về kỷ luật cán bộ, công chức án bộ sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm…

Xử lý cán bộ về hưu
Đưa quy định về xử lý cán bộ về hưu vào dự thảo Luật

Theo đó, bổ sung khoản 5 vào Điều 78 và sửa đổi Điều 79 quy định kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu nhưng có hành vi vi phạm trong thời gian công tác, bảo đảm đồng bộ với kỷ luật đảng nhằm mục đích xử lý nghiêm những người có sai phạm theo hướng: Cán bộ sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác và đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật về Đảng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật là Khiển trách; Cảnh cáo; Xóa tư cách chức vụ, chức danh đã đảm nhiệm tại thời điểm có hành vi vi phạm.

Theo Tờ trình của Bộ Nội vụ, cán bộ, công chức đang trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật, điều tra, truy tố, xét xử thì vẫn có thể giải quyết nghỉ hưu để tránh trường hợp cán bộ, công chức đến tuổi nghỉ hưu nhưng do trình tự thủ tục xử lý kéo dài, có trường hợp diễn ra trong nhiều năm, nếu không giải quyết thủ tục hưu trí sẽ tạo vướng mắc trong quá trình sử dụng cán bộ, công chức.

Bộ Nội vụ cho biết, quá trình lấy ý kiến cho thấy, các ý kiến đều tán thành với việc bổ sung quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc đã chuyển công tác nhưng có hành vi vi phạm trong thời gian công tác, nhằm thể chế hóa nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cân nhắc về phạm vi áp dụng đối với đối tượng này, theo đó chỉ nên áp dụng quy định đối với những người giữ chức vụ, quyền hạn nhất định mà không quy định chung đối với tất cả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ việc hoặc chuyển công tác.

Ban soạn thảo xin ý kiến Chính phủ về 2 phương án. Cụ thể, Phương án 1 quy định xử lý kỷ luật đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong quá trình công tác nay đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mà không còn là cán bộ, công chức, viên chức. Phương án 2 quy định xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo từ cấp Thứ trưởng và tương đương trở lên ở Trung ương và cấp Phó Chủ tịch tỉnh và tương đương trở lên ở địa phương có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong quá trình công tác nay đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mà không còn là cán bộ, công chức.

Cũng liên quan đến vấn đề kỷ luật công chức, Dự thảo Luật sửa đổi Điều 79 theo hướng: Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật là: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Cách chức; Buộc thôi việc.

Dự thảo cũng quy định rõ, việc cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Đối với công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Điều 80 quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật là 60 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, đối với các hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật. Đó là trường hợp cán bộ, công chức đang công tác hoặc cán bộ, công chức sau khi chuyển công tác, nghỉ hưu, nghỉ việc có hành vi vi phạm nghiêm trọng đã bị xử lý kỷ luật đảng bằng hình thức khai trừ khỏi đảng; Có hành vi vi phạm về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả, không hợp pháp.

Thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (không quá 90 ngày), tuy nhiên, trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 150 ngày.

Trường hợp cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm kỷ luật thì bị xem xét xử lý kỷ luật; trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người ra quyết định phải gửi quyết định và hồ sơ vụ việc cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật.

Cán bộ, công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.

Cán bộ, công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch hoặc thôi việc.

Xuân Hưng


Ý kiến bạn đọc