Luật An ninh mạng: Những hành vi nào bị cấm?

12:05' 29/05/2018 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Dự thảo Luật An ninh mạng vừa được trình bày trước Quốc hội sáng 29/5 đã quy định rõ những hành vi bị cấm như: xúc phạm tôn giáo; kỳ thị giới tính, phân biệt chủng tộc; Thông tin sai sự thật…

Võ Trọng Việt
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật An ninh mạng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt trình bày sáng 29/5, nhiều ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Luật.

Về các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể, bổ sung đầy đủ các biện pháp bảo vệ an ninh mạng. Có ý kiến đề nghị giới hạn phạm vi áp dụng một số biện pháp và không quy định cụ thể các biện pháp mang tính nghiệp vụ, bí mật.

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý, bổ sung quy định các biện pháp bảo vệ an ninh mạng như tại Điều 5 dự thảo Luật đã chỉnh lý.

Với ý kiến đề nghị thiết kế quy định biện pháp bảo vệ an ninh mạng theo từng nhóm nội dung theo phạm vi điều chỉnh, UBTVQH cho biết, các biện pháp quy định tại Điều này chủ yếu là những biện pháp hành chính, kỹ thuật chung để vừa bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng, nên không thể phân tách ra các nhóm biện pháp theo nhóm nội dung của phạm vi điều chỉnh.

Về hành vi bị nghiêm cấm, một số ý kiến đề nghị quy định rõ ràng, cụ thể các hành vi bị cấm, tránh quy định tùy tiện, dễ xâm phạm quyền con người, quyền công dân; đề nghị quy định bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; đề nghị sắp xếp thứ tự hành vi theo tính chqất của hành vi. Có ý kiến đề nghị quy định tách bạch các hành vi xâm phạm hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia và các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Một số ý kiến đề nghị rà soát, bổ sung các hành vi sử dụng không gian mạng làm phương hại đến lợi ích quốc gia, phá hoại kinh tế, văn hóa, xã hội, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đe dọa giết người, rửa tiền, đánh bạc, buôn bán vũ khí, hàng cấm, ma túy, tán phát văn hóa phẩm đồi trụy, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, hướng dẫn tấn công mạng, đăng tải hình ảnh của trẻ em trái phép, lợi dụng quy định của Luật An ninh mạng để nhũng nhiễu và chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm.

Một số ý kiến đề nghị không quy định trùng lặp giữa hành vi bị nghiêm cấm với các hành vi quy định tại các Điều 22, Điều 23 dự thảo Luật do Chính phủ trình. Một số ý kiến đề nghị chỉnh lý một số nội dung cụ thể tại các khoản.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, để bảo đảm tính rõ ràng, đẩy đủ, logic và dễ hiểu, UBTVQH đã chỉ đạo rà soát, bổ sung, chỉnh lý như được thể hiện tại Điều 8 dự thảo Luật đã chỉnh lý.

Về xử lý các hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, một số ý kiến đề nghị quy định rõ hơn các tình huống an ninh mạng, cơ chế, trách nhiệm giải quyết, xử lý các tình huống về an ninh mạng.

Tiếp thu ý kiến đại biểu, UBTVQH đã chỉ đạo bổ sung, chỉnh lý các điều khoản cụ thể, đồng thời bổ sung Điều 17 quy định về xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự.

Về bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng đối với doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, internet tại Việt Nam, nhiều ý kiến nhất trí với quy định tại khoản 4 Điều 34 dự thảo Luật do Chính phủ trình là bắt buộc các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, internet tại Việt Nam phải đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng Việt Nam tại Việt Nam.

Một số ý kiến không nhất trí với quy định này, vì cho rằng khó bảo đảm tính khả thi, không đúng với thực tiễn, gia tăng chi phí của doanh nghiệp nước ngoài, gây khó khăn cho các hoạt động tiếp cận thông tin và trái với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên... nên đề nghị nghiên cứu phương pháp quản lý khác cho phù hợp.

UBTVQH thấy rằng, nội dung này còn nhiều ý kiến khác nhau, một số vị đại sứ nước ngoài tại Việt Nam và một số tổ chức có ý kiến góp ý. UBTVQH đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan tổ chức hội nghị để tọa đàm, trao đổi với các vị đại sứ, làm rõ các kiến nghị có liên quan. Sau khi cân nhắc nhiều mặt, đồng thời tham khảo các quy định tương tự của pháp luật một số nước là thành viên của WTO, UBTVQH đã chỉnh lý theo hướng:

Về yêu cầu đặt máy chủ quản lý dữ liệu trên lãnh thổ Việt Nam, tiếp thu ý kiến đại biểu, UBTVQH đã chỉ đạo không quy định nội dung này trong dự thảo Luật để bảo đảm tính khả thi và thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ vào Việt Nam.

Về yêu cầu đặt cơ quan đại diện và lưu trữ dữ liệu người sử dụng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, UBTVQH đề nghị giữ lại nội dung này trong dự thảo Luật và ghép với quy định tương tự đối với doanh nghiệp trong nước để chỉnh lý thành khoản 2 Điều 26 dự thảo Luật đã chỉnh lý. Việc quy định như vậy sẽ có những thuận lợi như sau:

Một là, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với dữ liệu điện tử và xử lý các tình huống, hành vi trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; gắn nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ điều tra, xác minh, xử lý vi phạm và ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin chống Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Hai là, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, các Hiệp định cơ bản của WTO; phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn hiện nay.

Ba là, tạo hành lang pháp lý cho các bộ, ngành chức năng quản lý chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới vào Việt Nam; đảm bảo chủ quyền thanh toán, chống thất thu thuế.

Bốn là, bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.

Biện pháp bảo vệ an ninh mạng

1. Biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bao gồm:

a) Thẩm định an ninh mạng;

b) Đánh giá điều kiện an ninh mạng;

c) Kiểm tra an ninh mạng;

d) Giám sát an ninh mạng;

đ)  Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng;

e) Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng;

g) Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng;

h) Ngăn chặn, yêu cầu ngừng cung cấp thông tin mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông công cộng, mạng viễn thông dùng riêng, mạng internet, việc sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến theo quy định của pháp luật;

i) Yêu cầu xóa bỏ, truy cập, xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

k) Thu thập dữ liệu điện tử liên quan tới hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng;

l) Phong tỏa, hạn chế hoạt động của hệ thống thông tin; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền theo quy định của pháp luật;

m) Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

n) Các biện pháp khác theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

2. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng, trừ các biện pháp quy định tại điểm m và điểm n khoản 1 Điều này.

Hành vi bị cấm

1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:

a) Soạn thảo, đăng tải, tán phát thông tin quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 15; thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 16 và khoản 1 Điều 17 của Luật này;

b) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xúc phạm tôn giáo; kỳ thị giới tính, phân biệt chủng tộc;

d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

đ) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng;

e) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

2. Thực hiện chiến tranh mạng, tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng của biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

6. Hành vi khác sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc vi phạm quy định của Luật này.

Xuân Hưng

Loading...
Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)